Nong dan Viet lac long, ngo ngac trong cong nghiep hoa



talawas
30.5.2008
Phan Cẩm Thượng
Thư của một nông dân


Áo xông hương của chàng vắt mắc
Đêm em nằm em đắp lấy hơi
Gửi khăn gửi túi gửi lời,
Gửi đôi chàng mạng cho người đường xa

Tôi là một nông dân, biết đọc, biết viết và làm những con tính cộng
trừ nhân chia đơn giản. Trước đây như vậy đã được coi là xóa nạn mù
chữ, nhưng so với học vấn bây giờ, thì coi như chưa biết gì. Việc nhà
nông cày bừa gặt hái, trồng lúa và trồng màu, chăn nuôi và làm nhà,
tôi đều làm được cả bằng kiến thức cha truyền con nối. Xem âm lịch,
nhìn trời đất thì biết thời tiết, tính toán ít nhiều cho phù hợp với
vụ mùa. Ốm đau thì đánh gió bằng gừng, xông hơi bằng lá tre, ngải cứu
tía tô và sả. Tóm lại là người nông dân có thể hoàn toàn sống tự cung
tự cấp, cốt yếu là giữ đạo gia phong: kính cha mẹ thuận vợ chồng, con
cái biết nghe lời, yên vui với làng xóm, thế cũng tạm gọi là hạnh
phúc. Chính sách của nhà nước vừa nhiều vừa ở xa, chúng tôi chỉ có thể
hiểu bằng sự cụ thể hóa trong hành vi của cán bộ xã thôn. Chủ trương
tốt thì làng xóm yên bình, nhà nhà no đủ. Chủ trương có điều bất cập
thì đời sống lộn xộn, lòng người phân tán, nhà ai biết nhà ấy, chuyện
hay dở ngoài đường mặc kệ.

Khi đời sống phát triển, khoa học kỹ thuật ít nhiều cũng đã về đến
làng quê, tuy nhiên phần nhiều không phải do trí thức kỹ sư từ thành
phố, mà do nhu cầu của nông dân và sự buôn bán các máy móc công cụ.
Máy bơm, máy tuốt, máy xay xát, xe công nông, máy kéo, máy cày, người
quê mày mò học lấy, điều khiển và sửa chữa. Nhiều xưởng cơ khí sản
xuất và chữa máy móc ra đời. Kỹ thuật tuy thô sơ, nhưng tay nghề không
phải là kém và ứng dụng được, thay cho lao động thủ công. Tiện thì có
tiện, nhưng tai nạn do thiếu hiểu biết cũng nhiều. Kỹ thuật hiện đại
thay thế cho các kinh nghiệm cổ truyền, cũng làm mất đi hầu hết những
chế tác cũ. Nông dân trẻ không còn biết cày bừa và chữa bệnh theo kinh
nghiệm nữa. Ốm đau nhất nhất phải đi viện, tốn kém vô cùng. Người nông
dân là nơi đào mỏ của các bác sĩ thành phố. Ruộng đất không tăng.
Nhưng người lại đẻ nhiều. Làng xóm trở nên chật chội. Đất canh tác đã
ít nay lại càng thu hẹp cho các doanh nghiệp. Thanh niên không có việc
làm tràn ra thành phố, làm cửu vạn, ôsin, buôn bán, thậm chí làm đĩ
điếm, khá giả thì chạy chọt đi xuất khẩu lao động. Nếu học không giỏi
hơn người, một con em nông dân muốn vào một trường đại học mất từ
30-50 triệu đồng hối lộ, đi lao động nước ngoài mất từ 120-150 triệu.
Số tiền đó là mấy cơ nghiệp đối với những gia đình nông dân Bắc bộ, mà
cả họ phải góp lại cho một cháu.

Làng quê tôi vốn rất thuần hậu tươi đẹp. Lũy tre xanh bao phủ xóm
làng. Đồng ruộng rập rờn cánh cò bay. Bãi ngô ven sông xanh xa tắp.
Cua cá, chim thú đầy đồng ruộng bụi cây, sống hài hòa với con người,
thỉnh thoảng bắt ăn không mất tiền. Trong làng có ngôi đình mái cong
duyên dáng, có việc làng các cụ và hội đồng kỳ mục kỳ lão tới họp,
ngày hội trai gái tới vui chơi. Có ngôi chùa nhiều tượng Phật đẹp,
thập phương xa xôi cũng tìm đến hương khói. Có nghề in tranh khắc gỗ
dân gian, nghề làm tương, làm bún, làm đậu phụ. Mùa đông có mía ngọt
ăn không hết thì kéo mật. Mùa thu có bưởi và hồng. Mùa hạ có nhãn vải
và chuối. Mùa xuân thì đủ các thức bánh chưng, bánh dày, bánh tét,
bánh giò, bánh gio, chè lam, chè bà cốt. Rượu nấu bằng men lá thơm và
nồng, có thể ngâm thuốc chữa bệnh.

Tất cả những thứ giản dị ấy dần dà chìm vào trong giấc mộng. E rằng
mươi năm nữa không biết có còn cái làng cổ truyền từ hàng ngàn đời nữa
không? Có còn ai là người nông dân không? Và không biết chúng tôi có
trở thành công nhân nông nghiệp như các nhà khoa học vẫn nói hay
không.

Ruộng cấy lúa ngày một mất dần vì dành cho công nghiệp. Đương nhiên
phát triển kinh tế cần có công nghiệp, nhưng tôi nghĩ khu công nghiệp
phải tập trung và xa dân cư. Đằng này huyện nào cũng xây nhà máy, chất
thải cứ tự nhiên tuôn ra đồng ruộng, khác nào đem thuốc chuột rải ra
toàn tỉnh. Khi khu công nghiệp hình thành, hàng trăm đến hàng nghìn
công nhân tới, đông hơn cả dân làng, lại còn vợ con bè bạn của họ.
Hàng quán, cờ bạc, hút sách, nhà thổ kéo theo, thanh niên làng tôi đâm
hỏng cả. Lời hứa sau khi lấy đất sẽ cho con em nông dân vào làm trong
nhà máy phần nhiều là hão huyền, vì nông dân lấy đâu ra trình độ mà
trúng tuyển. Nhiều gia đình trong cảnh lộn xộn cải biến dần đất ruộng
thành đất vườn. Đất vườn khó bị lấy hơn và nếu có giải tỏa thì đền bù
lại cao hơn. Nhiều nhà máy do cổ phần của quan lại trong tỉnh chứ
chẳng phải ai khác. Với đồng lương nhà nước, họ đào đâu ra hàng chục,
trăm tỷ mà đầu tư như vậy. Đất ruộng là cả quá trình đào luyện của nhà
nông mới trồng được lúa, không dễ gì có được. Vậy tại sao không dùng
đất đồi, bãi hoang, mà cứ nhè vào đồng ruộng.

Làng dần thành phố. Thuần phong mỹ tục chẳng còn ý nghĩa gì. Chẳng còn
lá lành đùm lá rách, tắt lửa tối đèn hàng xóm có nhau. Tôi nhớ lắm
những ngày chạy ra cánh đồng, triền đê hứng gió thả diều. Những ông đồ
cẩn thận điền từng nét chữ Nho vào tờ sớ. Những bà già váy đụp quần
chùng gánh nồi đất ra giếng khơi. Nhớ những ngày năm ba đứa trẻ vít
dây đạp cối giã gạo. Nhớ hình ảnh mẹ và chị buông mái tóc dài gội nước
hoa bưởi và quay tóc nước tung bay như mưa phùn. Nhớ ông già làng đóng
dại cưa, đan thuyền thúng, cẩn trọng chuốt từng cật tre quây rổ giá.
Nhớ con giẻ cùi màu lông sặc sỡ chuyên ăn cứt chó, nhớ tiếng ếch ương
lộng trong đêm mưa rào. Nhớ căn nhà lá vách đất trộn rơm hăng mùi bùn,
mẹ già tựa liếp khóc ngày chúng tôi ra trận. Nhớ những cây đa, cây đề
đầu làng, ven đường treo cái bình vôi, cạnh những miếu hoang, không
thấy thần linh mà vẫn rờn rợn thế nào. Mọi người thường bảo trước đây
quê hương nghèo nàn lạc hậu, nay ai nấy đều khá giả, có xe máy ti vi,
thóc gạo dồi dào.

Thế nhưng để đổi lấy những cái như thế mà thay đổi cả làng xã cổ xưa
thì thật đắt giá. Người nông dân trước thì phụ thuộc vào thiên nhiên,
giờ thì phụ thuộc vào biến động xã hội. Văn hoá đất Việt sinh ra từ
nông thôn và nông dân. Khi hai cái đó mất đi hoặc biến đổi thì ta sẽ
có thứ văn hoá gì.

Kiến thức trong nông dân không nhiều, nhưng có tính chất thực tiễn và
truyền thừa, là kết quả của nhiều đời trồng cấy và sinh sống. Nhà nông
có thể cảm nhận những biến đổi của thời tiết, trông trời đất mà đoán
mưa nắng, hiểu rõ cỏ cây cũng sinh trưởng như con người. Tháng giêng
trồng khoai, tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà. Thấy trăng quầng
thì biết có hạn, thấy trăng tán thì biết có mưa. Thấy gió hanh thì lật
đất cho khô, vung vài nhát vồ là vỡ vụn, đợi mưa phùn cấy vụ đông
xuân. Cây quả chua như me, khế, sấu gặp khói lò thường sớm rụi vì
chúng nhạy cảm. Cây quả ngọt chịu môi trường ô nhiễm tốt hơn. Bùn lầy
tưởng bẩn, chát vào vết thương lại mau lành. Đồ gốm đất nung nấu cơm
kho cá thường ngon, lại giảm triệt được độc tố. Nhà tường đất chống ẩm
mùa nồm ấm áp mùa đông. Những kinh nghiệm đó chẳng những không được
sách vở tổng kết mà những thế hệ trẻ ở nông thôn không còn biết nữa.
Chúng thích mặc quần bò áo phông, phóng xe bạt mạng, bật nhạc rất to,
và sẵn sàng rời bỏ quê hương ra thành phố, hoặc không ngần ngại kết
hôn với một người xa lạ nước ngoài.

Tôi thuộc về một nền văn hoá khác, lạc lõng trước dòng chảy hào nhoáng
của cuộc sống công nghiệp. Một nền văn hoá đang tàn lụi, đang trở lại
với ông bà, không có cách gì ngăn được. Có lẽ không còn lâu nữa chuyện
về người nông dân Bắc bộ chỉ còn giống như trong chuyện cổ tích và
truyền thuyết Tấm Cám, Sơn tinh Thủy tinh, Cây khế hay trong những câu
ca dao, những lời Quan họ thấm đẫm tình người. Thơ rằng:

Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người quàng rửa chân

Khi những dòng sông Tiêu Tương, sông Dâu đã chết, sông Châu Giang
không chảy đục ngầu, sông Đáy trong xanh giờ thành ao rau muống. Khi
đầm hồ bị lấp dần, đình chùa bị tô vẽ xanh đỏ sặc sỡ, khi nhưng nhà bê
tông thay cho nhà đất nhà gạch với kiến trúc vì kèo thì con người cũng
đổi khác. Tôi là người nông dân già nua như cây cổ thụ lưu luyến cởi
bỏ chiếc áo nâu sồng cuối cùng của mình.

2005
Nguồn: Phan Cẩm Thượng, Nghệ thuật ngày thường, NXB Phụ nữ, Hà Nội,
2008